MỘT SỐ KHÁCH HÀNG CÓ VISA GẦN ĐÂY NHẤT

  Chúc mừng Tạ Hương (1954) được visa du lịch Canada
  Chúc mừng Ngô Liễu San (1969) được visa thăm thân Canada
  Chúc mừng gia đình chị Xiu Bích Hà (1974) Cún Say Váy (1974) và con Cún Chạt Cẩm (2006) được visa du lịch Mỹ
  Chúc mừng La Phụng Liên (1971), La Triệu Long (1964) được visa du lịch Úc
  Chúc mừng Trần Mỹ Linh (1981) được visa định cư Mỹ diện hôn thê
  Chúc mừng chị Trương Thị Thu Thảo (1968) và con Nguyễn Dũng Chinh (1999) được visa định cư Úc diện con bao lãnh cha mẹ (143)
  Chúc mừng Mai Thị Dương (1990) được visa định cư Úc
  Chúc mừng Giang Tuyết Lan (1967) được visa du lịch Mỹ
  Chúc mừng chị Nguyễn Thị Phượng (1974) được visa định cư Canada
  Chúc mừng Lâm Quế Vinh (1954) được visa du lịch Đức
  Chúc mừng Tạ Tô Muội (1944) được visa du lịch Canada 
  Chúc mừng Châu Ngọc Quần (1960) được visa du lịch Úc 
  Chúc mừng vợ chồng Phùng Kiết Hưng (1951) Trương Quảng Triều (1951) được visa du lịch Canada
  Chúc mừng Lý Chí Thuận (1975) được visa du lịch Canada
  Chúc mừng Lâm Minh Thanh Thúy (1972) được visa du lịch Canada
  Chúc mừng Trần Ngọc Thụy (1995) được visa du học Úc
  Chúc mừng Lâm Đạt Minh (1995) được visa du học Úc
  Chúc mừng Lý Chí Cần (1962) được visa du lịch Canada
  Chúc mừng Tiêu Hà Nữ (1971) và con Huỳnh Thục Ân (1995) được visa du lịch Úc
  Chúc mừng vộ chồng Phan Thị Cúc (1967) Mai Thành Thảo (1969) được visa du lịch Úc thăm con đang du học
   Chúc mừng Lâm Thị Tám (1944) được visa du lịch Úc
  Chúc mừng Lâm Gia Lương (1972) được visa du lịch Úc thăm con đang du học
 
Chúc mừng Trác Tú Văn (1966) Âu Như Quỳnh (2003) Âu Như Ngọc (2003) được visa du lịch Mỹ
 
Chúc mừng Võ Thị Cẩm Vân (1989) được visa du lịch Canada
 
Chúc mừng Huỳnh Kim Thủy (1965) được visa du lịch Mỹ
 
Chúc mừng Sỉ Tiểu Linh (1956) được visa du lịch Úc
 
Chúc mừng Huỳnh Thị Dừa (1952) được visa du lịch Úc
 
Chúc mừng Đinh Phương Thúy (1964) được visa du lịch Mỹ 
 
Chúc mừng Võ Thị Tố Như (1997) được visa du học Úc
 
Chúc mừng Lý Cẩm Hồng (1990) được visa diện người vợ đi cùng với chồng du học Úc
 
Chúc mừng Huỳnh Thanh Hoàng (1966) và con Huỳnh Thúy Vi (1994) được visa định cư Úc
 
Chúc mừng Tiêu Mỹ Linh (1975) được visa định cư Úc diện hôn nhân
 
Chúc mừng Hà Bảo Liên (1984) được visa du lịch Úc
 
Chúc mừng Huỳnh Kiến Sanh (1962) được visa du lịch Úc
 
Chúc mừng gia đình Lợi Tô Há (1959), Lý Thục Hằng (1959) và con gái Lợi Bội Phân (1996) được visa du lịch Úc
 
Chúc mừng Nguyễn Thị Hoài Nghĩa (1972) và mẹ Lữ Thị Dung (1974) được visa du lịch Úc
 
Chúc mừng Đào Minh (1965) được visa du lịch Úc
 
Chúc mừng Nguyễn Hải Kiều (1998) được visa du học Úc
 
Chúc mừng gia đình Cún Say Vấy (1974), Xiu Bích Hà (1974) và con Cún Chạt Cẩm (2006) được visa du lịch Canada
 
Chúc mừng gia đình chú Đoàn Anh Tuấn (1956) cô Nguyễn Thị Tuyết (1956) và con Đoàn Anh Thư (1991) được visa định cư Úc diện con bảo lãnh cha mẹ
 
Chúc mừng Phạm Thị Hoa (1962) được visa du lịch Úc (từng bị từ chối vài lần do tự làm hồ sơ) 
 
Chúc mừng Dương Quốc Thành (1969) được visa du lịch Úc
 
Chúc mừng cô Nguyễn Thị Nguyệt (1953) được visa du lịch Úc
 
Chúc mừng Lâm Thế Quang (2000) được visa du học Úc
 
Chúc mừng Tăng Tuyết Hồng (1968) được visa du lịch Úc (từng bị từ chối visa 2 lần do tự mình làm hồ sơ)
  Chúc mừng Vũ Bảo Trúc (1959) được visa du lịch Mỹ 
 
Chúc mừng Võ Ngọc Anh Thư (1989) được visa định cư Canada hiện hôn nhân. (được cấp visa trong vòng 4 tháng)
  Chúc mừng cô Lương Hảo (1953) và cô Hả Mỹ Ngọc (1958) được visa du lịch Canada
 
Chúc mừng Vương Lệ Quyên (1998) được visa du học Mỹ
 
Chúc mừng Nguyễn Thị Thúy Vi (2001) được visa du học Úc
 
Chúc mừng Lưu Diễn Phu (1990) được visa định cư Canada diện hôn nhân (được cấp visa trong vòng 4 tháng)
 
Chúc mừng gia đình La Chân Nghi (1980) Lang Kiến Chánh (1978) Lang Chí Hoằng (2009) được visa du lịch Mỹ 
 
Chúc mừng Phan Thanh Dũng (1984) và con Phan Thanh Ngân (2012) được visa phụ thuộc du học Úc
 
Chúc mừng gia đình Tô Chí Hùng (1979) Lê Thị Mỹ Linh (1980) Tô Chí Nguyễn (2000) Tô Thị Mộng Cầm (2008) được visa du lịch Úc
 
Chúc mừng Hùng Tố Bích (1958) được visa du lịch Mỹ
 
Chúc mừng gia đình Huỳnh Chí Hùng (1984) Huỳnh Mỹ Kim (2008) và Nguyễn Thị Trang (1985) được visa định cư Mỹ
 
Chúc mừng Mạch Ngọc Mai (1969) được visa định cư Canada
 
Chúc mừng gia đình Lương Xuân Hương (1972) Diệc Hùng (1968) và Diệc Vĩ Đạt (1995) được visa định cư Mỹ
 
Chúc mừng Trần Đăng Khoa (1988) được visa du học Mỹ
 
Chúc mừng Mai Thị Minh Trang (1970) được visa du lịch Úc
 
Chúc mừng cô chú Nguyễn Thị Bích Hạnh (1956) Phạm Văn Hùng (1965) được visa du lịch Úc
 
Chúc mừng Lý Lập Trụ (1973) Tô Thị Huệ (1975) được visa du lịch Úc (từng 2 lần bị từ chối do tự mình làm hồ sơ)
 
Chúc mừng Nguyễn Thị Xuân (1958) được visa du lịch Úc
 
Chúc mừng Lư Nhận Ý (1982) được visa đinh cư Mỹ diện hôn thê
 
Chúc mừng Huỳnh Đình Đức (1966) Trần Thị Thịnh (1964) được visa định cư Mỹ
 
Chúc mừng cô Lưu Bảo Kinh (1952) được visa du lịch Mỹ
 
Chúc mừng Hà Thường Phong (1971) được visa du lịch Úc
 
Chúc mừng Nguyễn Thị Hoài Đức (1978) được visa định cư Úc diện hôn thê
 
Chúc mừng Lê An Diễm Phúc (1990) được visa định cư Úc diện hôn nhân
 
Chúc mừng cô chú Nguyễn Thị Yến (1952) Nguyễn Khánh Trường (1950) được visa định cư Mỹ
 
Chúc mừng em Liu Mỹ Phương (1993) va Lưu Bội Bội (1995) được visa du lịch Hàn Quốc
 
Chúc mừng Châu Thiếu Huệ (1987) được visa định cư Úc diện hôn thê
 
Chúc mừng Trần Quang Văn Khôi (1991) được visa định cư Úc diện hôn thê
 
Chúc mừng cô Văn Muối (1956) được visa du lịch Mỹ
 
Chúc mừng Từ Cẩm Thiêm (1965), Lư Tô Nữ (1953) và Từ Gia Bửu (1992) được visa du lịch Canada
 
Chúc mừng Trương Nguyễn Yến Phương (2000) được visa định cư Úc diện cha bảo lãnh con. Cảm ơn lãnh sự Úc đã xử lý hồ sơ trong vòng 4 tháng để cha con được đoàn tụ sớm
 
Chúc mừng Ban Quan Minh (1951) được visa du lịch Canada
 
Chúc mừng Lý Minh Tuấn (1967) được visa du lịch Úc
 
Chúc mừng Trương Viễn Dân (1960) được visa du lịch Canada
 
Chúc mừng Trần Hoàng Tú (1987) được visa định cư Úc diện hôn thê
 
Chúc mừng Trường Xuân Mộc (1971) được visa du lịch Canada. Cảm ơn lãnh sự Canada giúp đỡ xét duyệt trong vòng 2 ngày
 
Chúc mừng Lê Minh Trí (1971) được visa du lịch Úc
 
Chúc mừng Si Tiểu Linh (1956) được visa du lich Úc
 
Chúc mừng Nguyễn Thế Hùng (2003) được student pass du học Singapore
 
Chức mừng Bành Gia Mẫn (2000) được visa du học Mỹ
 
Chúc mừng vợ chồng Lương Huệ Trinh (1987), Đặng Quốc Hùng (1987) được visa du lịch Úc
 
Chúc mừng Trường Gia Kỳ (1997) được visa du học Đài Loan va chị Tăng Mỹ Linh (1972) được visa du lịch Đài Loan
 
Chúc mừng Nghiêm Tố Ngọc (1963) được visa định cư Úc diện 116 chăm sóc người thân
 
Chúc mừng chị Nguyễn Thị Trúc Ly (1978) và 2 con được visa định cư Mỹ diện hôn nhân
 
Chúc mừng Nguyễn Thế Quan (1969) được visa du lịch Úc
  Chúc mừng Từ Mai Quế (1963) được visa du lịch Canada
  Chúc mừng Ngô Thụy Ái Lâm (1994) được visa du học Canada
  Chúc mừng cô Phạm Lệ Vân (1956) được visa du lịch Úc
  Chúc mừng gia đình anh Quách Khánh Phát (1969) chị Kim Tú Nghi (1969) và 3 người con Quách Quế Anh (1996), Quách Kim Anh (2003), Quách Ngọc Anh (2000) được visa du lịch Mỹ
  Chúc mừng em Trát Thái Bạch Doanh Doanh (2007) được visa du học Úc tiểu học  
  Chúc mừng cô chú Hùynh Hương Lan (1966) Huỳnh Lang (1959) được visa du lịch Canada 
  Chúc mừng Ngô Huệ Thanh (1993) được visa định cư Mỹ diện hôn thê. Hồ sơ hoàn tất trong vòng 6 tháng 
  Chúc mừng Lý Diễm My (1989) được visa định cư Canada diện hôn nhân
  Chúc mừng chú Vũ Thanh Bình (1954) được visa định cư Úc diện hôn nhân
  Chúc mừng Trương Quang Thành (1964) được visa du lịch Canada

Hệ Thống Giáo Dục Hoa Kỳ

Giáo dục ở Hoa Kỳ chủ yếu là công lập, kiểm soát và tài trợ đến từ ba cấp độ: liên bang, tiểu bang, và địa phương. Giáo dục trẻ em là bắt buộc. Ngoài ra có rất nhiều cơ sở giáo dục đại học (công và tư) trong cả nước. Tiêu chuẩn về giáo dục và thử nghiệm thường được quyết định bởi chính quyền tiểu bang.

USA Region Map


Độ tuổi giáo dục bắt buộc khác nhau đối với từng tiểu bang. Nó bắt đầu từ tuổi 5-8 và kết thúc từ tuổi 14-18. Trong hầu hết các trường công và tư, giáo dục được chia thành ba cấp độ: trường tiểu học (elementry school), trung học (middle school, đôi khi được gọi là junior high school), và trường trung học (high school, đôi khi được gọi là secondary education). 
 
Trong hầu hết các trường học ở các cấp, các trẻ em được chia theo nhóm tuổi theo lớp, từ mẫu giáo đến lớp 12. Độ tuổi của học sinh ở các lớp khác nhau một chút theo khu vực. Giáo dục sau trung học, thường được gọi là "college" ở Hoa Kỳ thường được quản lý cách biệt với hệ thống trường tiểu học và trung học.
 
Năm học Mỹ theo truyền thống bắt đầu vào cuối tháng Tám hoặc ngày sau khi Ngày Lao động vào tháng Chín, sau khi nghỉ hè. 
 
Trường Công và Trường Tư
 
Tại Hoa Kỳ, nhà nước và chính quyền địa phương chịu trách nhiệm chính cho giáo dục. Bộ Giáo dục Liên bang đóng một vai trò quan trọng trong tiêu chuẩn thiết lập và tài chính trong ngành giáo dục.
 
Hệ thống trường công lập được hỗ trợ bởi nhà nước, địa phương và tài trợ của chính phủ liên bang. Bởi vì một phần lớn kinh phí của trường đến từ thuế của địa phương, tài nguyên và cơ sở vật chất các trường công có sự khác nhau. Sĩ số lớp học cũng thay đổi theo huyện. Quyết định chương trình giảng dạy trong các trường công được thực hiện chủ yếu ở cấp địa phương và tiểu bang, chính phủ liên bang ít có can thiệp. 
 
Hệ thống trường công lập lớn nhất tại Hoa Kỳ ở New York, nơi mà hơn một triệu học sinh được giảng dạy trong 1.200 trường công. Bởi vì kích thước to lớn của nó - hệ thống trường công của New York có ảnh hưởng đến việc xác định tiêu chuẩn và các tài liệu, chẳng hạn như sách giáo khoa của cả nước.
 
Các trường tư ở Hoa Kỳ bao gồm trường học giáo xứ (liên kết với giáo phái tôn giáo), các trường phi lợi nhuận độc lập, và trường tư thục phi lợi nhuận. Các trường tư tính phí khác nhau tùy thuộc vào vị trí địa lý, chi phí của nhà trường, và nguồn tài trợ.
 
Trường tư có nhiệm vụ khác nhau: Cho học sinh có năng khiếu, học sinh khuyết tật học tập hoặc các nhu cầu đặc biệt khác, hoặc sinh viên với các đảng phái tôn giáo. Một số phục vụ cho các gia đình tìm kiếm một ngôi trường nhỏ, với một môi trường nuôi dưỡng, hỗ trợ. Không giống như các hệ thống trường công, trường tư không chịu sự ràng buộc của pháp luật là phải nhận học sinh. Nhập học vào một số các trường tư thường chọn lọc cao. Các trường tư cũng có khả năng vĩnh viễn trục xuất sinh viên liên tục ngang bướng, mà khả năng này không có ở trường công.
 
Các trường tư có lợi thế là lớp học nhỏ, dưới hai mươi học sinh trong lớp tiểu học, và sự chú ý đến cá nhân học sinh nhiều hơn và học trong môi trường cạnh tranh hơn.
 
Chương Trình Trung Học
 
Nói chung, ở cấp trung học, phạm vi học rộng và không tập trung học chuyên một môn nào. Học sinh phải học một số môn bắt buộc nhưng cũng có thể chọn học thêm các môn khác để thực hiện đầy đủ giờ học yêu cầu của họ.
 
Sau đây là những môn bắt buộc của trung học:
  • Khoa học (sinh học, hóa học và vật lý)
  • Toán (đại số, hình học, thống kê, pre-calculus, calculus)
  • Tiếng Anh (văn học, nhân văn, composition, tiếng nối v.v.)
  • Khoa học xã hội (lịch sử, chính phủ, kinh tế)
  • Giáo dục thể chất
Nhiều tiểu bang đòi hỏi môn học "sức khỏe" trong đó học sinh học về giải phẫu học, dinh dưỡng, first aid, sexuality, nhận thức về ma túy và birth control.
 
Đại Học và Cao Đẳng
 
Giáo dục sau trung học tại Hoa Kỳ được gọi là College hoặc University và thường là hệ 4 năm. Toàn Hoa Kỳ có 4.495 college, university, và junior college(2008).
 
Các trường khác nhau trong khả năng cạnh tranh và danh tiếng của họ, thông thường, trường có uy tín nhất là trường tư. 
 
Các tiêu chí tuyển sinh nghiêm khắc và dựa vào điểm các khóa học của trung học, điểm trung bình, và điểm kiểm tra (Chẳng hạn như các bài kiểm tra SAT hoặc ACT). Hầu hết các trường cao đẳng cũng xem xét các yếu tố cá nhân học sinh như các hoạt động ngoại khóa, bài luận cá nhân, và cuộc phỏng vấn.
 
Bằng đại học được gọi là bằng Cử Nhân (Bachelor Degree) cho một  chuyên ngành gọi là major. Bằng cấp chuyên môn như luật, y học, dược phẩm, và nha khoa, được cung cấp như sau đại học sau khi có ít nhất ba năm đại học hoặc sau khi lấy bằng cử nhân tùy thuộc vào chương trình.
 
Một số học sinh lựa chọn trường cao đẳng cộng đồng (community college) để học 2 năm trước khi học tiếp một trường cao đẳng hoặc đại học khác. Trong hầu hết các tiểu bang, trường cao đẳng cộng đồng được điều hành bởi một bộ phận của trường đại học hoặc theo quận. Sau hai năm học, bằng cấp của trường cao đẳng cộng đồng là Associate of Arts (AA) hoặc bằng Associate of Science (AS). 
 
 
Sơ Đồ Giáo Dục Của Hoa Kỳ
Sơ Đồ Giáo Dục Hoa Kỳ
Share In
Các tin liên quan